Trước khi lái xe (bằng lái, chở người và hàng, kiểm tra xe)
213 câu
Làm bài thi 50 câu về chủ đề này- Khi trưởng đồn cảnh sát nơi xuất phát xét thấy không có trở ngại và cấp phép có chỉ định nơi chất hàng, thì có thể chất hàng ở nơi được chỉ định khác với nơi được trang bị để chất hàng rồi lái xe.
- Người lái ô tô tải, dù không có giấy phép của trưởng đồn cảnh sát, vẫn có thể tự do chở người trên thùng xe khi thấy cần thiết.
- Ngay cả khi ô tô tải đang chở hàng hóa, việc chở người trên thùng xe của nó là hoàn toàn không được phép trong mọi trường hợp.
- Không được lái xe khi chất hàng theo cách khiến từ bên ngoài không nhận biết được đèn xi nhan, biển số xe hay đèn phanh của xe.
- Người ngồi trên xe (người ngồi cùng xe) cũng không được ngồi theo cách khiến người lái vi phạm quy định về chở người và chất hàng.
- Ngay cả người không phải là người sử dụng phương tiện v.v. cũng không được yêu cầu người lái xe điều khiển phương tiện trong tình trạng chở quá tải.
- Ngay cả khi biết rằng phương tiện sẽ bị chở quá tải, nếu chỉ bán hoặc giao hàng hóa cho người lái xe thì không bị cấm.
- Khi điều khiển phương tiện, không được chở người vượt quá số người được phép chở, cũng không được chất hàng vượt quá các giới hạn đã quy định về trọng lượng, kích thước và cách chất hàng.
- Giới hạn về số người được chở và về việc chất hàng đối với xe thô sơ như xe đạp được quy định thống nhất trên toàn quốc bằng Nghị định Chính phủ.
- Khi hàng hóa không thể chia nhỏ khiến việc chất hàng vượt quá giới hạn, nếu được trưởng đồn cảnh sát nơi xuất phát cấp phép thì có thể chất hàng vượt quá giới hạn và điều khiển phương tiện trong phạm vi giấy phép đó.
- Trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được chở người vượt quá giới hạn trên thùng xe của ô tô tải.
- Trường hợp lái xe trong thời gian hiệu lực của giấy phép lái xe đang bị đình chỉ cũng bị coi là vi phạm quy định cấm lái xe khi không có giấy phép.
- Xe gắn máy thông thường (moped) được phép điều khiển ngay cả khi không có giấy phép lái xe.
- Không được cho mượn hoặc cung cấp xe của mình cho người có nguy cơ sẽ lái xe khi không có giấy phép.
- Dù biết đối phương không có giấy phép lái xe, nếu chỉ nhờ họ lái và mình ngồi cùng xe thì không bị cấm.
- Về quy định cấm ngồi cùng xe do người không có giấy phép lái, các ô tô dùng cho kinh doanh vận tải hành khách đang trong khi làm nhiệm vụ v.v. được loại trừ khỏi phạm vi áp dụng.
- Khi ở trong tình trạng có nguy cơ không thể lái bình thường vì lý do như quá mệt mỏi hay bệnh tật, thì không được lái xe.
- Quy định cấm lái xe khi quá mệt mỏi v.v. chỉ áp dụng cho tài xế chuyên nghiệp như tài xế xe buýt hay xe tải, không áp dụng cho người lái xe cá nhân.
- Khi trong người có hơi men, bất kỳ ai cũng không được điều khiển phương tiện v.v.
- Hành vi cho người đang có hơi men trong người mượn xe thì phía người cho mượn không bị cấm, vì lái hay không là do người đó tự quyết định.
- Không được mời đồ uống có cồn hoặc khuyến khích uống rượu bia đối với người có nguy cơ sẽ lái xe sau đó.
- Dù biết người lái đã uống rượu bia, nhưng vì mình chỉ được chở đi nên việc ngồi cùng xe đó không bị cấm.
- Người định lái ô tô hoặc xe gắn máy thông thường (gensuki) phải được ủy ban an toàn công cộng cấp giấy phép lái xe.
- Giấy phép lái xe chỉ được chia thành hai loại là bằng lái loại 1 và bằng lái loại 2.
- Bằng lái loại 1 được chia thành tổng cộng mười loại.
- Bằng lái loại 2 được chia thành tổng cộng bảy loại.
- Bằng lái tạm được chia thành bốn loại: cỡ lớn, cỡ trung, bán cỡ trung và thông thường.
- Khi thấy cần thiết vì an toàn giao thông, ủy ban an toàn công cộng có thể gắn điều kiện vào giấy phép lái xe, chẳng hạn giới hạn loại ô tô mà người đó được lái, tùy theo tình trạng cơ thể hoặc kỹ năng lái xe của người đó.
- Điều kiện một khi đã được gắn vào giấy phép lái xe thì sau đó không bao giờ bị thay đổi nữa.
- Để lái ô tô chở khách như taxi hay xe buýt trong công việc chở khách có thu tiền, cần có bằng lái loại 2 tương ứng với loại xe đó.
- Khi lái ô tô cỡ lớn nhằm mục đích chở khách có thu tiền, chỉ cần có bằng lái loại 2 cho ô tô cỡ trung là đủ.
- Người có bằng lái loại 2 cho ô tô thông thường được lái ô tô cỡ trung là ô tô chở khách nhằm mục đích chở khách có thu tiền.
- Khi lái xe kéo theo phương tiện chở khách đang có khách ngồi trên đó, chỉ cần có bằng lái loại 2 cho việc kéo xe là đủ, không cần bằng lái cho chính chiếc xe làm nhiệm vụ kéo.
- Người có bằng lái loại 2 cho ô tô cỡ lớn hoặc bằng lái loại 2 cho ô tô cỡ trung được lái ô tô thông thường dùng cho dịch vụ lái xe thay.
- Trên giấy phép lái xe, ngoài số giấy phép và các loại bằng lái, còn ghi cả ngày cuối cùng của thời hạn hiệu lực.
- Khi bằng lái bị đặt thêm điều kiện như “phải đeo kính” hoặc khi điều kiện đó bị thay đổi, nội dung đó được ghi trên giấy phép lái xe.
- Người đã được cấp bằng lái, khi lái ô tô v.v., phải mang theo giấy phép lái xe tương ứng với chiếc xe đó.
- Khi đang lái xe mà bị cảnh sát yêu cầu xuất trình giấy phép lái xe, chỉ cần nói miệng rằng mình có mang theo là được, không cần xuất trình.
- Thời hạn hiệu lực của bằng lái tạm là 6 tháng, tính từ ngày tham gia kiểm tra năng lực phù hợp.
- Khi lái xe để tập với bằng lái tạm, chỉ cần gắn biển hiệu báo đang tập lái ở mặt trước của xe là đủ.
- Khi tập lái với bằng lái tạm, nếu người hướng dẫn ngồi bên cạnh là người có bằng lái loại 1, thì người đó phải có thời gian giữ bằng lái cộng dồn từ 3 năm trở lên.
- Người 20 tuổi, nếu có bằng lái loại 2, vẫn được ngồi cùng xe làm người hướng dẫn khi tập lái với bằng lái tạm.
- Người được cấp bằng lái tạm không được lái ô tô chở khách nhằm mục đích chở khách của kinh doanh vận tải hành khách.
- Người được cấp bằng lái tạm cũng được lái ô tô thông thường dùng cho dịch vụ lái xe thay.
- Người được cấp bằng lái tạm ô tô thông thường, khi tập lái hoặc khi dự kỳ thi v.v., chỉ được lái ô tô thông thường mà thôi.
- Người được cấp bằng lái tạm ô tô cỡ trung được lái ô tô cỡ lớn để tập lái.
- Nếu lấy được bằng lái ô tô thông thường chính thức trước khi bằng lái tạm ô tô thông thường hết thời hạn hiệu lực, thì bằng lái tạm đó mất hiệu lực.
- Không đủ 18 tuổi thì không thể nhận bằng lái ô tô thông thường.
- Không đủ 18 tuổi thì không thể nhận bằng lái xe gắn máy.
- Về nguyên tắc, không đủ 21 tuổi thì không thể nhận bằng lái ô tô cỡ lớn.
- Bằng lái ô tô cỡ trung về nguyên tắc yêu cầu từ 20 tuổi, nhưng người đáp ứng các điều kiện quy định có thể nhận khi 19 tuổi.
- Không đủ 18 tuổi thì không thể nhận bằng lái tạm ô tô thông thường.
- Về nguyên tắc, không đủ 21 tuổi thì không thể nhận bằng lái tạm ô tô cỡ lớn.
- Bằng lái tạm ô tô cỡ trung có thể nhận được từ 18 tuổi.
- Người đã có bằng lái vẫn có thể nhận thêm một lần nữa bằng lái cùng loại với bằng lái đó.
- Khi có thay đổi về các nội dung ghi trên giấy phép lái xe, chỉ cần khai báo gộp lại vào lần gia hạn bằng lái tiếp theo là được.
- Trường hợp chuyển nhà làm cho ủy ban an toàn công cộng quản lý thay đổi thì khai báo với ủy ban an toàn công cộng quản lý nơi cư trú sau khi chuyển đến.
- Người muốn lái ô tô cỡ lớn thì phải có bằng lái ô tô cỡ lớn.
- Nếu có bằng lái ô tô thông thường thì cũng có thể lái ô tô đặc chủng cỡ nhỏ và xe gắn máy thông thường (原付).
- Nếu có bằng lái ô tô cỡ lớn thì cũng có thể lái ô tô cỡ trung, ô tô bán cỡ trung và ô tô thông thường.
- Nếu có bằng lái ô tô bán cỡ trung thì có thể lái ô tô cỡ trung.
- Nếu có bằng lái ô tô đặc chủng cỡ lớn thì cũng có thể lái ô tô thông thường.
- Nếu có bằng lái xe mô tô hai bánh cỡ lớn thì cũng có thể lái xe mô tô hai bánh thông thường.
- Nếu có bằng lái xe mô tô hai bánh thông thường thì có thể lái xe mô tô hai bánh cỡ lớn.
- Khi kéo rơ moóc hạng nặng để lái xe, chỉ cần có bằng lái kéo xe là đủ, không cần bằng lái của chính chiếc xe đầu kéo đó.
- Dù đã có bằng lái ô tô cỡ lớn, người dưới 21 tuổi hoặc người có tổng thời gian đã có bằng lái chưa đủ 3 năm thì không được lái những ô tô cỡ lớn v.v. đã được quy định.
- Người đã có bằng lái ô tô cỡ trung, dù dưới 21 tuổi, vẫn được lái mọi ô tô cỡ trung mà không bị hạn chế.
- Dù đã có bằng lái ô tô bán cỡ trung, người có tổng thời gian đã có bằng lái chưa đủ 2 năm thì không được lái những ô tô thông thường đã được quy định.
- Dù đã có bằng lái xe mô tô hai bánh cỡ lớn, người có tổng thời gian đã có bằng lái mô tô chưa đủ 2 năm thì không được lái những xe mô tô hai bánh cỡ lớn hoặc xe mô tô hai bánh thông thường đã được quy định.
- Với bằng lái loại 1 thì không được lái ô tô chở khách nhằm mục đích chở hành khách của hoạt động kinh doanh vận tải hành khách bằng ô tô.
- Nếu có bằng lái ô tô thông thường thì được lái ô tô thông thường lái thay trong công việc của dịch vụ lái xe thay.
- Bằng lái xe sẽ mất hiệu lực nếu quá hạn mà không được gia hạn.
- Người có cả giấy phép lái xe lẫn thẻ My Number có ghi thông tin bằng lái thì chỉ cần không gia hạn một trong hai là bằng lái mất hiệu lực ngay tại thời điểm đó.
- Người có giấy phép lái xe quốc tế v.v. khi lái xe thì phải mang theo giấy phép lái xe quốc tế v.v. đó.
- Giấy phép lái xe quốc tế v.v. chỉ cần mang theo trong lúc lái xe là đủ, dù cảnh sát yêu cầu cho xem thì cũng không có nghĩa vụ phải xuất trình.
- Với người lái xe gương mẫu và người lái xe thông thường có độ tuổi tại ngày gia hạn v.v. là dưới 70 tuổi, thời hạn hiệu lực của bằng lái kéo dài đến ngày tròn 1 tháng tính từ sinh nhật lần thứ 5 sau ngày hết hạn v.v.
- Với người lái xe gương mẫu và người lái xe thông thường có độ tuổi tại ngày gia hạn v.v. đúng 70 tuổi, thời hạn hiệu lực của bằng lái kéo dài đến ngày tròn 1 tháng tính từ sinh nhật lần thứ 3 sau ngày hết hạn v.v.
- Đối với người lái xe gương mẫu hoặc người lái xe thông thường mà tại ngày gia hạn v.v. đã từ 71 tuổi trở lên, thời hạn hiệu lực của bằng lái kéo dài đến ngày tròn 1 tháng tính từ sinh nhật lần thứ 3 sau ngày hết hạn v.v.
- Thời hạn hiệu lực bằng lái của người lái xe có vi phạm v.v. kéo dài đến ngày tròn 1 tháng tính từ sinh nhật lần thứ 3 sau ngày hết hạn v.v., không phân biệt độ tuổi.
- Để được công nhận là người lái xe gương mẫu, tính đến ngày gia hạn v.v. phải có thời gian liên tục giữ bằng lái từ 3 năm trở lên.
- “Người lái xe thông thường” là người không thuộc nhóm người lái xe gương mẫu và cũng không thuộc nhóm người lái xe có vi phạm v.v.
- Người có thời gian liên tục giữ bằng lái dưới 5 năm bị xếp vào nhóm người lái xe có vi phạm v.v.
- Khi ngày cuối của thời hạn hiệu lực rơi vào Chủ nhật hoặc một ngày nghỉ khác thì ngày liền trước đó được coi là ngày cuối.
- Với người có sinh nhật vào ngày 29 tháng 2, khi tính thời hạn hiệu lực thì trong những năm không phải năm nhuận, sinh nhật được coi là ngày 28 tháng 2.
- Khi gia hạn bằng lái sau khi đã qua sinh nhật liền trước ngày cuối của thời hạn hiệu lực, thời hạn hiệu lực mới được tính từ ngày gia hạn.
- Nếu ngày gia hạn v.v. rơi đúng vào sinh nhật của người đó thì khi tính thời hạn hiệu lực, “ngày gia hạn v.v.” được đọc thành “ngày liền trước ngày gia hạn v.v.”.
- Với người đã có cả giấy phép lái xe lẫn thẻ My Number có ghi thông tin bằng lái (マイナ免許証), ngày làm mốc cho thời hạn hiệu lực mới là ngày sớm hơn trong hai ngày hết hạn đó.
- Khi bằng lái bị thu hồi, phải nhanh chóng nộp lại giấy phép lái xe cho ủy ban an toàn công cộng quản lý nơi cư trú của mình.
- Sau khi làm mất giấy phép lái xe và đã được cấp lại thẻ mới, nếu tìm thấy giấy phép lái xe cũ đã mất thì cũng không cần nộp lại thẻ cũ đó.
- Nơi phải nộp lại giấy phép lái xe là ủy ban an toàn công cộng quản lý nơi cư trú.
- Khi hiệu lực của bằng lái bị đình chỉ thì không cần nộp giấy phép lái xe cho ủy ban an toàn công cộng, chỉ cần tự mình giữ cho đến khi hết thời gian đình chỉ.
- Trong trường hợp giấy phép lái xe chỉ đơn thuần hết thời hạn hiệu lực thì không cần nộp lại giấy phép lái xe.
- Khi thời hạn đình chỉ hiệu lực của bằng lái đã kết thúc và chính người đã nộp giấy phép lái xe yêu cầu được trả lại, ủy ban an toàn công cộng phải trả lại ngay giấy phép lái xe đó.
- Người có giấy phép lái xe quốc tế hoặc giấy phép lái xe nước ngoài được lái các loại ô tô v.v. mà giấy phép đó cho phép lái, trong thời hạn một năm tính từ ngày nhập cảnh vào Nhật Bản.
- Chỉ cần có giấy phép lái xe quốc tế hoặc giấy phép lái xe nước ngoài thì cũng có thể lái ô tô chở khách như taxi hay xe buýt để làm công việc chở khách.
- Ngay cả khi có giấy phép lái xe quốc tế hoặc giấy phép lái xe nước ngoài, người đó cũng không được lái ô tô thông thường theo hình thức lái xe thay cho khách (daikō).
- Để lái xe tại Nhật Bản bằng giấy phép lái xe nước ngoài, giấy phép đó phải được kèm theo bản dịch tiếng Nhật do cơ quan đã được quy định lập ra.
- Giấy phép lái xe quốc tế, dù không phù hợp với mẫu quy định trong phụ lục của công ước, nhưng nếu được cấp ở nước ngoài thì vẫn dùng để lái xe tại Nhật Bản được.
- Trường hợp người có tên trong sổ đăng ký cư trú cơ bản xuất cảnh khỏi Nhật Bản rồi nhập cảnh trở lại trong thời gian chưa đủ 3 tháng kể từ ngày xuất cảnh, thì lần nhập cảnh đó không được tính là “nhập cảnh” dùng làm mốc tính thời hạn.
- Số người được phép ngồi trên xe gắn máy (原付) tối đa là 1 người lái, không được chở thêm người ở phía sau.
- Trọng lượng hàng hóa được phép chở trên xe gắn máy có gắn thùng xe (thiết bị chở hàng) là tối đa 50 kg.
- Chiều cao của hàng hóa chở trên xe gắn máy được phép đến mức bằng 2 mét trừ đi chiều cao của nơi chất hàng.
- Hàng hóa trên xe gắn máy được phép chất nhô ra khỏi mép trái và mép phải của thùng xe tối đa 0,3 mét.
- Xe mô tô hai bánh cỡ lớn và xe mô tô hai bánh thông thường không có thùng bên (sidecar), nếu có thiết bị chở người dành cho người khác ngoài người lái, thì được chở tối đa 2 người.
- Trọng lượng hàng hóa được phép chở trên xe mô tô hai bánh cỡ lớn hoặc xe mô tô hai bánh thông thường có trang bị thiết bị chở người hoặc thiết bị chở hàng là tối đa 30 kg.
- Khi xe mô tô hai bánh thông thường có động cơ với kích cỡ không vượt quá mức đã quy định kéo theo một chiếc riyakā (リヤカー — xe moóc hai bánh kéo theo sau), thì chiếc riyakā đó được chở tối đa 120 kg hàng.
- Trọng lượng hàng hóa được phép chở trên xe minicar (ミニカー — loại xe bốn bánh rất nhỏ cỡ 50 cc, về mặt pháp lý được coi là ô tô) có trang bị thiết bị chở hàng là tối đa 120 kg.
- Trọng lượng hàng hóa được phép chở trên ô tô đặc chủng cỡ nhỏ có trang bị thiết bị chở hàng là tối đa 700 kg.
- Chiều dài hàng hóa chở trên ô tô được phép bằng chiều dài của xe cộng thêm 3/10 chiều dài của xe đó.
- Chiều rộng hàng hóa chở trên xe mô tô hai bánh cỡ lớn hoặc xe mô tô hai bánh thông thường được phép bằng chiều rộng của thiết bị chở người hoặc thiết bị chở hàng cộng thêm 0,3 mét.
- Chiều cao của hàng hóa chở trên ô tô, về nguyên tắc, được xác định theo mức chuẩn 4,1 mét tính từ mặt đất.
- Đối với những ô tô mà ủy ban an toàn công cộng căn cứ vào tình trạng đường sá và giao thông xét thấy không có trở ngại rồi quy định riêng, mức chuẩn về chiều cao của hàng hóa có thể được đặt trong phạm vi từ 3,8 mét trở lên và không quá 4,1 mét.
- Hàng hóa chở trên ô tô được phép nhô ra khỏi thân xe về phía trước và phía sau, mỗi bên tối đa bằng 2/10 chiều dài của xe.
- Hàng hóa chở trên ô tô được phép nhô ra khỏi thân xe về bên trái và bên phải, mỗi bên tối đa bằng 1/10 chiều rộng của xe.
- Với xe mô tô hai bánh cỡ lớn và xe mô tô hai bánh thông thường, hàng hóa được phép nhô ra khỏi thiết bị chở người hoặc thiết bị chở hàng về mỗi bên trái và bên phải tối đa 0,3 mét.
- Đối với ô tô thông thường ba bánh, mức chuẩn về chiều cao của hàng hóa là 2,5 mét.
- Trong số những người được phép chở người khác ngoài người lái trên xe mô tô hai bánh cỡ lớn v.v. có cả người hiện đang có bằng lái xe mô tô hai bánh thông thường và có thời gian giữ bằng lái đó cộng dồn từ 3 năm trở lên.
- Khi tính “thời gian giữ bằng lái trong quá khứ”, thời gian bằng lái bị đình chỉ hiệu lực cũng được tính vào.
- Một trong các ngoại lệ cho phép chở thêm người trên xe mô tô hai bánh cỡ lớn trên đường cao tốc được quy định với điều kiện: trong vòng 1 năm trước ngày nhận bằng lái xe mô tô hai bánh cỡ lớn hiện đang có, người đó đã từng có bằng lái xe mô tô hai bánh cỡ lớn hoặc bằng lái xe mô tô hai bánh thông thường.
- “Thời gian giữ bằng lái nước ngoài” được cộng dồn đối với bằng lái nước ngoài là phần thời gian mà người đó lưu trú tại nước hoặc vùng lãnh thổ đó, trong khoảng thời gian giữ bằng lái ấy.
- Thời gian giữ bằng lái cần có để chở thêm người trên xe mô tô hai bánh cỡ lớn là cộng dồn từ 3 năm trở lên trên đường cao tốc, nhưng trên đường thông thường thì cộng dồn từ 1 năm trở lên là đủ.
- Thời gian giữ bằng lái cần có để chở thêm người trên xe mô tô hai bánh thông thường trên đường thông thường được quy định là cộng dồn từ 5 năm trở lên.
- Ngay cả khi riêng thời gian giữ bằng lái trong quá khứ chưa đủ 3 năm, nếu cộng với thời gian giữ bằng lái xe mô tô hai bánh thông thường hiện đang có mà đạt từ 3 năm trở lên thì vẫn thỏa mãn điều kiện.
- Người nhận bằng lái ô tô cỡ lớn theo quy định đặc biệt dành cho quân nhân Lực lượng Phòng vệ mà chưa đủ 21 tuổi thì không được lái ô tô cỡ lớn, trừ ô tô của Lực lượng Phòng vệ do quân nhân Lực lượng Phòng vệ điều khiển.
- Trong số những người đã nhận bằng lái ô tô cỡ trung, người không được lái những ô tô cỡ trung đã được quy định là người chưa đủ 22 tuổi.
- Hạn chế lái xe đối với ô tô bán cỡ trung dùng cho nhiệm vụ khẩn cấp có một ngoại lệ: loại trừ những xe do người đã đỗ kỳ thẩm định của ủy ban an toàn công cộng về việc lái xe cho nhiệm vụ khẩn cấp điều khiển.
- Hạn chế lái xe đối với ô tô cỡ lớn dùng cho nhiệm vụ khẩn cấp cũng được áp dụng y như vậy cho ô tô của Lực lượng Phòng vệ do quân nhân Lực lượng Phòng vệ điều khiển.
- Khi người được cấp bằng lái tạm lái xe, giáo viên hướng dẫn lái xe đang làm nhiệm vụ dạy kỹ năng lái xe có thể ngồi cùng trên xe đó để hướng dẫn.
- Nếu là giáo viên hướng dẫn lái xe thì ngay cả trong thời gian giấy phép lái xe của chính mình đang bị đình chỉ hiệu lực, người đó vẫn có thể ngồi cùng xe để hướng dẫn người được cấp bằng lái tạm.
- Quân nhân Lực lượng Phòng vệ nằm trong số những người có thể nhận bằng lái ô tô cỡ lớn (và bằng lái tạm ô tô cỡ lớn) từ 19 tuổi.
- Người có thể nhận bằng lái ô tô cỡ lớn từ 19 tuổi chỉ có quân nhân Lực lượng Phòng vệ; người đã hoàn thành chương trình đào tạo được chỉ định về năng lực phù hợp cần cho việc lái ô tô cỡ lớn thì không nằm trong số đó.
- Quân nhân Lực lượng Phòng vệ có thể nhận bằng lái ô tô cỡ trung (bao gồm cả bằng lái tạm ô tô cỡ trung) từ 19 tuổi.
- Trong số các ô tô thông thường thuộc “ô tô thông thường đặc định v.v.” (特定普通自動車等), loại dùng động cơ đốt trong chỉ giới hạn ở loại có tổng dung tích xi lanh từ 1,000 lít trở xuống.
- Theo tiêu chuẩn đối với mũ bảo hiểm, chỉ cần trọng lượng từ 3 kg trở xuống là đạt.
- Mũ bảo hiểm phải có quai đeo cằm cố định được mũ sao cho mũ không dễ tuột ra khi bị va đập.
- Việc tập lái xe với bằng lái tạm không được thực hiện trên đường cao tốc quốc gia, cũng không được thực hiện trên đường dành riêng cho ô tô.
- Ngay cả trên đường được coi là không phù hợp để tập lái, chẳng hạn như đường đang ùn tắc nghiêm trọng, vẫn được phép tập lái với bằng lái tạm.
- Người muốn được cấp bằng lái ô tô cỡ lớn thì tập lái bằng ô tô cỡ trung.
- Người muốn được cấp bằng lái loại 2 cho ô tô cỡ lớn thì tập lái bằng ô tô cỡ lớn dạng xe buýt có số người được phép chở từ 20 người trở lên.
- Người muốn được cấp bằng lái loại 2 cho ô tô cỡ trung thì tập lái bằng ô tô cỡ trung dạng xe buýt có số người được phép chở từ 11 người trở lên và không quá 29 người.
- Nội dung tập lái của người muốn được cấp bằng lái loại 2 cho ô tô thông thường có bao gồm việc quay đầu xe (U-turn) một cách an toàn.
- Khi lái ô tô hoặc xe gắn máy trên đường, phải nhận bằng lái tương ứng với loại xe đó, đồng thời phải mang theo giấy phép lái xe.
- Ngay trong thời gian đang bị xử lý đình chỉ bằng lái, vì bản thân bằng lái vẫn còn nên vẫn được lái xe.
- Để lái ô tô chở khách như xe buýt hay taxi nhằm mục đích chở khách, cần có bằng lái loại 2.
- Trường hợp người lái của dịch vụ lái xe thay lái ô tô thông thường của khách thay cho khách, thì chỉ cần có bằng lái loại 1 là đủ.
- Khi lái xe tập luyện bằng bằng lái tạm, chỉ cần cho ngồi bên cạnh một người đã được cấp bằng lái loại 1 lái được xe đó từ 1 năm trở lên là đủ.
- Khi lái xe tập luyện bằng bằng lái tạm, phải gắn biển hiệu tập lái bằng lái tạm ở phía trước và phía sau xe, tại vị trí đã quy định.
- Với bằng lái ô tô thông thường, ngoài ô tô thông thường còn có thể lái ô tô đặc chủng cỡ nhỏ và xe gắn máy thông thường (原付).
- Nếu có bằng lái ô tô bán cỡ trung thì cũng có thể lái ô tô cỡ trung.
- Nếu có bằng lái xe mô tô hai bánh cỡ lớn thì cũng có thể lái xe mô tô hai bánh thông thường.
- Ngay cả khi kéo xe có tổng trọng lượng từ 750 kg trở xuống thì vẫn nhất thiết phải có bằng lái kéo xe.
- Khi kéo xe bị hỏng bằng dây thừng hay cần cẩu v.v. thì cần có bằng lái kéo xe.
- Để lái xe ưu tiên khẩn cấp, ngoài bằng lái cần thiết để lái chiếc xe đó, còn cần có tư cách đặc biệt về số năm kinh nghiệm lái xe và về độ tuổi.
- Trước khi lái ô tô, hãy xác nhận rằng trên xe có giấy chứng nhận kiểm định xe còn hiệu lực và giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ô tô bắt buộc (hoặc giấy chứng nhận tương hỗ trách nhiệm).
- Người mới lái xe chưa đủ 1 năm kể từ khi nhận bằng lái ô tô bán cỡ trung, khi lái ô tô bán cỡ trung thì phải gắn biển hiệu người mới lái xe ở các vị trí đã quy định phía trước và phía sau xe.
- Ngay cả người chưa đủ 1 năm kể từ khi nhận bằng lái ô tô thông thường cũng không cần gắn biển hiệu người mới lái xe khi lái ô tô thông thường.
- Đối tượng của biển hiệu người khiếm thính là người lái xe bị đặt điều kiện trên bằng lái vì lý do khiếm thính ở mức mà thính lực của cả hai tai, dù có dùng máy trợ thính, vẫn không nghe được tiếng còi xe 90 decibel ở khoảng cách 10 mét.
- Việc gắn biển hiệu người cao tuổi là dành cho người lái xe cao tuổi từ 75 tuổi trở lên khi lái ô tô thông thường.
- Người lái xe bị đặt điều kiện trên bằng lái vì lý do khuyết tật vận động, khi lái ô tô thông thường thì hãy gắn biển hiệu người khuyết tật về thân thể ở các vị trí đã quy định phía trước và phía sau xe.
- Chỉ khi lái xe đường dài mới cần lập kế hoạch lái xe, còn khi lái trên quãng đường ngắn thì không cần.
- Khi lái xe trong thời gian dài thì hãy nghỉ ngơi ít nhất 1 lần sau mỗi 2 tiếng.
- Dù cảm thấy buồn ngủ khi đang lái xe, tốt nhất vẫn là chạy tiếp không nghỉ cho đến khi tới nơi cần đến.
- Khi đã uống thuốc cảm hay thuốc đau đầu v.v. có tác dụng gây buồn ngủ thì đừng lái xe, và khi quá mệt mỏi thì không được lái xe.
- Nếu uống rượu từ tối hôm trước thì đến sáng hôm sau rượu đã không còn ảnh hưởng nữa, nên được lái xe.
- Kiểm tra hằng ngày (日常点検) là việc kiểm tra do người sử dụng phương tiện hoặc người sắp cho xe vận hành tự thực hiện theo trách nhiệm của chính mình.
- Người sử dụng ô tô dùng cho kinh doanh vận tải như taxi hoặc xe cho thuê có tài xế (ハイヤー) phải thực hiện kiểm tra hằng ngày mỗi ngày một lần, trước khi cho xe vận hành.
- Người sử dụng của mọi ô tô đều nhất thiết phải thực hiện kiểm tra hằng ngày mỗi ngày một lần, trước khi cho xe vận hành.
- Ô tô chở người thông thường dùng riêng (自家用の普通乗用自動車) phải được kiểm tra định kỳ mỗi 1 năm một lần và phải được bảo dưỡng những chỗ cần thiết.
- Việc kiểm tra định kỳ đối với ô tô dùng cho kinh doanh vận tải và ô tô cỡ lớn dùng riêng chỉ cần thực hiện mỗi 6 tháng một lần là đủ.
- Trên ô tô phải trang bị dụng cụ tín hiệu khẩn cấp như pháo sáng báo hiệu (発炎筒) hoặc đèn đỏ.
- Có quy định rằng hãy trang bị thiết bị báo hiệu dừng xe khi đi trên đường thông thường.
- Không được điều khiển xe mà bộ giảm thanh không được bảo dưỡng nên có nguy cơ phát ra tiếng ồn lớn hoặc khí thải độc hại.
- Khi đạp bàn đạp phanh mà thấy cảm giác đạp mềm thì nguyên nhân được cho là do áp suất hơi lốp không đủ.
- Khi lượng nước làm mát giảm đi rõ rệt thì có nguy cơ nước bị rò rỉ từ két nước làm mát (ラジエータ) hoặc từ ống dẫn nước làm mát.
- Dây curoa quạt gió ở tình trạng bình thường là khi dùng tay ấn vào phần giữa mà nó hoàn toàn không võng xuống.
- Độ sâu rãnh gai lốp được kiểm tra bằng vạch chỉ báo độ mòn (ウェア・インジケータ/スリップ・サイン) v.v.
- Việc kiểm tra “tình trạng lắp đặt”, chẳng hạn ốc bánh xe có bị lỏng hay không, được quy định là thực hiện đối với ô tô có tổng trọng lượng từ 5 tấn trở lên.
- Việc kiểm tra đồng hồ áp suất khí và van phanh phải được thực hiện đối với xe có lắp phanh khí nén.
- Số người được phép chở của xe được tính bao gồm cả người lái.
- Trẻ em dưới 12 tuổi thì cứ 3 em được tính bằng 2 người lớn.
- Trên xe gắn máy thông thường, được phép để hàng hóa nhô ra khỏi thiết bị chở hàng về mỗi bên trái và phải tối đa 0,3 mét.
- Khi chỉ chở số người tối thiểu cần thiết để trông coi hàng hóa thì được chở người trên thùng xe.
- Để chở người hoặc chất hàng vượt quá giới hạn, cần được trưởng đồn cảnh sát nơi đến cấp phép.
- Khi chất hàng, được phép chất theo cách khiến đèn phanh hay biển số xe trở nên khó nhìn thấy từ bên ngoài.
- Khi hàng hóa rơi xuống hoặc văng ra, phải nhanh chóng dọn bỏ vật đó và thực hiện các biện pháp cần thiết khác.
- Ngay cả khi vận chuyển hàng nguy hiểm, cũng không cần treo bảng báo hiệu cho biết đang vận chuyển hàng nguy hiểm.
- Khi tốc độ của xe tăng cao thì thị lực giảm xuống, và đặc biệt là những vật ở gần trở nên khó nhìn thấy hơn.
- Ảnh hưởng của sự mệt mỏi biểu hiện mạnh nhất ở mắt, và khi mệt mỏi tích tụ lại thì việc bỏ sót hoặc nhìn nhầm sẽ nhiều lên.
- Vì thị lực không thay đổi ngay cả khi độ sáng thay đổi đột ngột, nên không cần giảm tốc độ trước khi vào hầm đường bộ hay khi ra khỏi hầm.
- Khi chạy trên mặt đường nhựa bị ướt, lực ma sát giảm đi nên quãng đường phanh dài ra.
- Dù có phanh gấp khi đang chạy ở tốc độ cao thì bánh xe cũng không bao giờ bị bó cứng và trượt trên mặt đường.
- Độ lớn của lực ly tâm càng lớn khi bán kính của khúc cua càng lớn.
- Để vào cua an toàn, hãy phanh sớm ở đoạn đường thẳng trước khúc cua và giảm tốc độ xuống đủ thấp từ trước.
- Nếu chất hàng không đúng cách khiến vị trí trọng tâm bị nâng cao hoặc bị lệch về một bên thì xe dễ bị đổ hơn.
- Khi đâm mạnh vào tường bê tông ở tốc độ 60 km/h, xe chịu lực va đập tương đương với khi rơi từ độ cao khoảng 14 mét (khoảng tầng 5 của một tòa nhà).
- Khi tốc độ tăng gấp đôi thì quãng đường phanh và lực va đập cũng tăng gấp đôi.
- Lực va đập khi xảy ra va chạm được quyết định bởi tốc độ, và không liên quan đến trọng lượng của xe.
- Khí thải của ô tô có chứa các chất độc hại như carbon monoxide, nhưng không trở thành nguyên nhân gây ô nhiễm không khí.
- Xe minicar (ミニカー) là ô tô thông thường có động cơ với tổng dung tích xi lanh từ 50 cc trở xuống và công suất định mức từ 0,60 kilôwatt trở xuống.
- Xe phun thuốc nông nghiệp có kết cấu đặc định là xe có kết cấu không thể đạt tốc độ từ 50 km/h trở lên.
- Ngay cả đối với người có giấy phép lái xe, cũng không được cho mượn hay cung cấp xe của mình.
- Người có nguy cơ không thể lái bình thường vì quá mệt mỏi hay bệnh tật thì không được ngồi cùng xe.
- Ngay cả đối với người không có dự định lái xe, cũng không được mời đồ uống có cồn hay khuyến khích uống rượu bia.
- Sau khi chất hàng thì từ bên ngoài không còn nhìn thấy đèn phanh phía sau, nhưng vì quãng đường ngắn nên tôi đã cứ thế lái xe đi.
- Tuy đã vượt quá một chút giới hạn chất hàng được quy định, nhưng vì nghĩ rằng chừng này thì không sao nên tôi đã cứ thế chất hàng và lái xe.
- Vì sức khỏe không tốt và có nguy cơ không thể lái bình thường nên tôi đã thôi lái xe và nghỉ ngơi.
- Vì nghĩ rằng uống một lượng nhỏ thì không sao nên tôi đã lái xe sau khi uống rượu bia.
- Tuy biết rằng người đó sắp lái xe, nhưng vì chính người đó nài nỉ nên tôi đã mời rượu bia.
- Với tư cách người ngồi cùng xe, tôi biết rằng người lái sẽ vi phạm giới hạn về chở người nhưng vẫn cứ thế lên xe.
- Vì hàng hóa nhiều nên tôi đã nhờ một người lái xe quen biết điều khiển xe trong tình trạng chở quá tải.
- Tôi biết là người đó không có bằng lái, nhưng vì được nhờ nên đã cho người bạn đó mượn xe của mình.
- Tôi chỉ có bằng lái ô tô thông thường, nhưng đã lái ô tô đặc chủng cỡ nhỏ.
- Tôi đã chở trên thùng xe số người tối thiểu cần thiết để trông coi hàng hóa rồi lái xe.